Gốc > ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG-TÂM LINH >
Dương Trọng Thu @ 04:48 21/10/2010
Số lượt xem: 855
Thiền Và Vườn Cảnh
Thiền là nghệ thuật sống với niềm an vui sâu thẳm của tánh trong sáng rộng lớn, tự nhiên vốn sẳn có nơi mỗi chúng ta. Vườn thiền là khung cảnh tạo dựng lên bằng cây, cỏ, đá, rêu phối hợp với cảnh trí thiên nhiên để giúp chúng ta tiếp xúc với sự sâu thẳm nội tâm ấy. Vườn đó cũng được gọi là vườn đông phương.
Vườn đông phương và vườn tây phương khác nhau rõ rệt: Một bên trồng thật nhiều bông hoa rực rỡ, một bên chú trọng đến nét trầm lặng, cô liêu, trống vắng, sâu thẳm và an bình. Sự khác nhau căn bản đó bắt nguồn từ hai nền văn hóa khác biệt. Ðông phương xem đời sống là một toàn thể, con người sống hòa hợp và thoải mái với thiên nhiên.. Tây phương chú trọng đến việc chinh phục và chế ngự thiên nhiên. Ðông phương qua ảnh hưởng của Phật giáo, nhất là Thiền tông thấy rõ nét thiên thu trong những giây phút ngắn ngủi nối tiếp bất tận, thấy rõ chính nơi thế giới thường ngày chúng ta đang sống vốn là Thực Tại, vốn là sự Chân Thật, vốn là Chốn Thiên Ðàng, là Cảnh Thiên Thu Bất Biến trong sự biến chuyển không ngừng. Vườn đông phương đưa ta vào thế giới trầm lặng, sâu thẳm, bí mật của những gì ở phía bên kia thuộc vùng vô thức, vườn tây phương khích động thị giác chúng ta với những nét rực rỡ muôn màu muôn sắc của chốn bên này, của vùng ý thức. Vườn đông phương vương vấn nơi tâm thức chúng ta, theo chúng ta về đến tận nhà sau khi chúng ta rời khỏi chốn ấy từ lâu. Ngược lại, vườn tây phương biến mất khi chúng ta bước ra khỏi cổng, khi mắt ta không còn đối diện với hoa lá muôn màu muôn vẽ.
I. Hoa Chưa Nở, Bụi Chưa Dấy
Trong bài tựa của thiền thư Bích Nham Lục, thiền sư Viên Ngộ đã viết: “Một mảy bụi dấy lên là đại địa trọn thâu. Một đóa hoa nở là thế giới lừng dậy. Thế nhưng khi bụi chưa lên, hoa chưa nở thì mắt dính vào đâu?”
Khi hoa chưa nở thì chúng ta thấy cái gì? Ðó chính là điểm ách yếu của Thiền Tông và cũng của các vườn đông phương. Những khu vườn xanh thẳm hun hút và trầm lặng: Khi hoa chưa nở thì mắt dính vào đâu?
Tâm là cái mà chúng ta nghe, thấy, biết, phân biệt hay dỡ, đúng sai, là cái mà chúng ta cảm nhận sự vui, buồn, thương ghét khi đối diện với cái chúng ta ưa hay ghét. Vào một vườn tây phương chúng ta thích thú với những đóa hồng trắng, tím, vàng, hoàng phấn to và tươi mát, với những đoá uất kim hương xuất hiện cùng với mùa xuân tô đậm nền cỏ xanh với những khối mầu vàng hay đỏ rực rỡ. Chúng ta thấy bông hoa tràn đầy màu sắc, chúng ta nhìn bầu trời cao rộng, chúng ta nghe tiếng chim hót líu lo. Qua cái thấy, nghe, biết mà chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh và những nét đẹp của hoa lá trong khu vườn giúp chúng ta quên đi giây phút hiện tại trên quả đất này, giúp chúng ta vui sướng qua những rung cảm của giác quan, giúp chúng ta biết được phần nào chốn thiên đàng mà chúng ta mong mỏi, hy vọng hay ước ao sẽ đến khi rời bỏ quả đất đầy phiền não và đấu tranh nàỵ
Vườn đông phương thì ngược lại, không trồng nhiều hoa, không có những cảnh rực rỡ thu hút chúng ta để chúng ta quên mình đi, đánh mất mình đi trong nét đẹp của dáng dấp và màu sắc bao quanh. Vườn đông phương có một chiều sâu thăm thẳm, đó là một thế giới rộng lớn bao la trong một khu vực bé nhỏ. Vào một khu vườn tây phương, chúng ta quên mất sự có mặt của mình. Ở trong một khu vườn đông phương, chúng ta thấy rõ, biết rõ sự hiện hữu của mình trong vũ trụ trống vắng, tinh sạch, bình an và bao la. Sự thấy biết đó, ý thức về sự có mặt của mình đó không phải do mình đối diện với cảnh bên ngoài, đối diện với những hình dáng, mầu sắc, âm thanh mà do sự hòa tan của mình vào ngoại giới và trở thành một với cái vô cùng như thiền sư Tuệ Trung diễn tả:
“Di Ðà vốn thật pháp thân ta
Nam Bắc Ðông Tây khắp chói lòa
Trăng thu ngự giữa trời cao rộng
Ðêm lặng trùng dương rạng chiếu xa.”
(Nhất Hạnh dịch)
Thiền cho ta thấy rõ, sống một cách chân thật với vũ trụ bao la của tâm linh, nhìn thấy tính cách rỗng lặng, tràn đầy, tỏa chiếu của mọi sự vật, nhìn thấy cái vô biên trong một hạt cát và sống trong thời gian vĩnh cữu của những giây phút lăn trôi không ngưng nghỉ. Ðiều ấy được diễn tả trong kinh Hoa Nghiêm:
“Phật tử trụ ở đây
Trong một hạt bụi nhỏ
Thấy vô lượng quốc độ đạo tràng
Chúng sinh và các kiếp.
Trong một hạt bụi như thế
Trong hết thảy hạt bụi cũng thế
Tất cả đều chứa đủ
Thảy đều không ngại nhau.
Trong mỗi hạt bụi
Thấy đủ đại dương quốc độ
Chúng sinh, kiếp như vi trần
Lẫn lộn mà không ngại nhau.
Phật tử trụ ở nơi đây
Quán hết thảy các pháp
Chúng sinh, quốc độ và thời gian
Không sinh khởi và không thực hữu.
Quán sát lý bình đẳng
Nơi chúng sanh nơi pháp
Như Lai, quốc độ và nguyện
Và thời gian thảy đều bình đẳng.”
(Tuệ Sỹ dịch)
II. Cái Có Là Cái Không
Lời Kinh Bát Nhã nói về sự thấy biết rõ ràng chân thật khi chúng ta buông xả mọi thứ ràng buộc, mọi sự bám vúi vào những ý tưởng so đo, những cảm xúc vốn cứ cột chặt lòng mình. Khi lòng mình thoãi mái, tâm mình an bình, trí mình tươi mát, linh động, bén nhạy thì vạn vật hiện ra một cách chân thật: Chúng hiện hữu, có mặt tràn đầy với những hình dáng và màu sắc nhưng rỗng lặng, yên tĩnh và riêng biệt tuyệt đối. Khi đi vào một khu vườn tây phương chúng ta chỉ thấy cái đó, cái hữu bao quanh mình bốn phía. Khi đi vào khu vườn đông phương cái không hiển bày làm ta tiếp xúc được với không gian không bờ mé và thời gian vĩnh cữu:
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Kìa xem bóng nguyệt dòng sông
Ai hay không có, có không là gì.
(Nhất Hạnh dịch)
Dĩ nhiên, khu vườn đông phương không phải chỉ là cái trống rỗng không có gì cả. Trong đó cũng có cây cỏ, hoa lá, những tảng đá, những ao hồ hay những con suối, những mô đất cao cùng những bãi cát trắng hay vàng có những đường chạy song song như những đợt sóng biển nối tiếp chạy đến những hoang đảo cô liêu.

Kim Các Tự cô tịch vào mùa đông
Theo quyển Vườn Nhật Bản, người ta phân ra làm bốn loại vườn chúng ta thường thấy ở các chùa chiền, nơi thiền viện hay những tư gia: Vườn có ao đồi, vườn đá cát và vườn có các bậc đá xếp thành lối đi và vườn ngoạn cảnh.
Vườn ao đồi là những khu vườn rộng người ta đắp những đồi đất tượng trưng cho núi và đào những chiếc ao hay hồ tượng trưng cho biển. Những cây cối trồng nơi đây được tỉa cắt cẩn thận để chúng đừng lớn quá và luôn luôn hòa hợp với khung cảnh xung quanh, tạo thành một cảnh đồi núi hùng vĩ với những cây tùng, cây bách ghi dấu thời gian đang lặng lẽ trôi qua. Khu vườn là một vũ trụ mênh mông trong một khu đất giới hạn về không gian lẫn thời gian.
Vưòn đá cát là những vườn khô, không cây cỏ, chỉ có cát và đá. Vườn mà không có cây cối, hoa lá, chỉ những tảng đá rêu phong cùng bãi cát trắng cùng bức tường tạo thành một vũ trụ riêng biệt. Ở nhiều thiền viện, những vườn đá cát được tạo nên để giúp chúng ta nhìn thấy cái trống vắng của thế giới bên trong cũng như bên ngoài, cái bao la trên một vùng nhỏ bé. Trên khu đất hình chữ nhật, người ta trãi cát. Các hòn đá được sắp xếp theo quy luật tương xứng và liên hệ hỗ tương để biểu lộ sự hòa hợp tự nhiên. Các hòn đá này rải rác nhiều nơi trên thảm cát. Những tảng đá lớn là chính, những hòn nhỏ hơn được thêm vào theo các con số 1, 3, 5, 7, 9, 11, 13, 15. Các hòn đá được sắp xếp gần nhau theo số lẻ để tạo nét hòa hợp tự nhiên. Có lúc hai tảng đá nằm kế cận thì một lớn (Chủ) và một nhỏ (Bạn) đối xứng và hỗ trợ cho nhau.
Những vườn đá thường do các vị tu sĩ Phật giáo thực hiện vào các thế kỹ trước đây và những vườn này bày tỏ chất thiền một cách cụ thể nhất qua hình thù và màu sắc. Những tảng đá tuy được sắp xếp theo một quy luật nào đó, với những hình thù và khối lượng khác nhau để tạo ra sự hòa hợp và cân đối nhưng đó không phải là mục đích chính của tác giả. Các ngôi chùa và các thiền viện đều tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh nói về sự rốt ráo của tâm giải thoát:
“…sắc tức là không
Không tức là sắc …”
Các hình thù, màu sắc, khối lượng là không. Không ở đây không phải là cái trống vắng của một cái gì đã có trước rồi nay lại biến đi. Không cũng không là ngược lại với có hay là sự trống rỗng. Không ở đây là tính chân thật của vạn pháp, của mọi sự vật: Là cái rỗng lặng trong cái tràn đầy, là cái tĩnh lặng của cái sống động, là cái bất động trong sự chuyển động náo nhiệt, là cái thiên thu bất biến trong cái chuyển biến liên tục, là cái thường hằng vĩnh cữu trong cái vô thường của dòng thời gian lăn trôi.
Nếu chúng ta đứng yên nhìn vườn đá, chúng ta sẽ thấy đá cát tự chúng biểu lộ tánh chân thật tự nhiên của mình, không liên quan gì đến những điều ta gán thêm cho chúng về ý nghĩa của cách sắp xếp, về giá trị thẩm mỹ, về những lời trầm trồ khen ngợi hay chê bai:
“Thể các pháp đều không
Không sanh cũng không diệt
Không nhơ cũng không sạch
Không thêm cũng không bớt
Cho nên trong tánh không
Không có sắc…”
Bát Nhã Tâm Kinh
Tánh không hay tánh chân thật, còn được gọi là Phật tánh, đều có ở mọi thứ. Khi tâm trong sáng và tỉnh thức thì ta thấy rõ điều kỳ diệu ấỵ Cái biết về tánh không đó không nằm nơi chữ nghĩa mà phát xuất từ trực giác. Không do lời giảng giải hay so sánh mà do sự hay biết trực tiếp khi nhìn thấy sự vật trước mắt. Và đó là sức hấp dẩn của loại vườn đá cát.
Tuy thế, xin đừng bận tâm về cái sắc sắc không không (Có có không không) nói trên vì chúng ta đến đây để mà ngắm nhìn một khu vườn tức là một sự vật hiện rõ ràng trước mắt. Chúng ta hãy thưởng ngoạn những nét đặc thù của các viên đá lớn nhỏ rải rác trên thảm cát trắng. Thật ra, đó không phải là cát mà là những hạt sỏi nhỏ màu vàng nhạt dưới ánh mặt trời chuyển thành màu trắng mà ở xa ta thấy như là thảm cát. “Thảm cát” là biển lớn trên đó thiền sinh thường dùng cào tre để kéo những đường cong hay thẳng tượng trưng cho sóng biển chạy mãi đến vô biên. Có nhiều loại sóng biển khác nhau tùy theo biển bình lặng hay bảo tố, các nét vạch lên cát có đường nét khác nhau để diển tả thời tiết khác nhau trên vùng biển lớn. Chúng ta không đi vào những vườn đá cát mà chỉ đứng hay ngồi ở bên ngoài mà ngắm nhìn ở những góc độ khác nhau. Và như nhìn vào vũ trụ, mỗi lần nhìn vườn đá cát là mỗi lần chúng ta thấy điều mới mẻ xuất hiện. Tại sao thế? À! Ðó là sự kỳ diệu của chân tâm, Phật tánh nơi mỗi chúng ta và cũng là tài hoa của nhà nghệ sĩ tạo dựng khung cảnh nàỵ Chúng ta hãy nghe vị Tam Tổ Tăng Xán của Thiền tông giải thích về điều ấy:
“Tâm là tâm của cảnh
Cảnh là cảnh của tâm
Ví biết hai chẳng dứt
Rồi cũng chỉ một không
Một không, hai mà một
Bao gồm hết muôn sai
Chẳng thấy trong thấy đục
Lấy gì mà lệch sai”
(Trúc Thiên dịch)
Loại vưòn thứ ba là khu vườn với những bậc đá đưa đến trà thất. Trà thất là căn lều nhỏ bé chỉ đủ chổ cho hai hoặc ba người ngồi uống trà trong tỉnh thức mà chúng ta thường gọi là trà đạo. Ðến trà thất như vượt qua những ngọn đồi để đến vùng yên tĩnh. Con đường lên đồi thường có những bậc cấp quanh co. Những phiến đá bằng, không đều cạnh thường được sắp xếp để tạo nên ấn tượng của cuộc hành trình đặc biệt ấy. Khi chúng ta bước qua cổng, chân đặt trên những phiến đá trên vùng rêu xanh mà cây cỏ đều tỏa nét u tịch, an bình và hòa hợp tự nhiên lòng mình bỗng dịu lại trong niềm an bình trống vắng như một chiếc lá vàng đang êm đềm yên nghỉ trên phiến rêu xanh.
Loại vườn thứ tư là vườn mà chúng ta đi vào để ngoạn cảnh. Các loại vườn trước đây người ta chú tâm đến nét tĩnh, loại vườn này lại chú trọng tính cách động: chúng ta dạo quanh vườn, khi ở cạnh hồ, lúc ở dốc núi, khi dưới tàng cây, lúc trên chiếc cầu. Mỗi nơi ta nhìn đều bày tỏ, biểu lộ cái Riêng Biệt trong cái Toàn Thể cũng như biểu lộ cái Toàn Thể trong cái Riêng Biệt. Ðiều kỳ diệu nhất là chúng ta không tách lìa, không ở ngoài những thứ ấy: Chúng ta vừa là cái Riêng Biệt chuyển động trong cái Toàn Thể bao la bất động.
Ðạo là cái rộng lớn bao la, yên tĩnh tuyệt vời, an vui kỳ diệu. Sống đạo là trở thành, là biết rõ, là an trú trong niềm hạnh phúc bao la sâu thẳm của kiếp nhân sinh tuy ngắn ngủi trong thời gian và nhỏ bé trong không gian nhưng vốn rộng lớn vô biên và mãi mãi không cùng. Ðó chính là niềm bí mật luôn luôn mời gọi, luôn luôn thì thầm, luôn luôn thúc bách chúng ta hãy khám phá những gì mình đang có mà chưa biết đến.
Chúng ta chỉ có một cuộc đời để sống, chúng ta đang có niềm an vui rộng lớn vô cùng để an hưởng. Xin hãy tặng cho mình điều quý báu ấy. Xin hãy khoan thai bước đến vườn thiền, hãy để lòng an bình và trí buông xả, bước những bước đi trong tỉnh thức để cảm nhận được gió mát đang chổi dậy, để nhận ra những đóa hoa sen đang nở ra trong chốn bình thản và rộng lớn vô biên:
“Ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dạy
Từng bước hoa sen nở.”
(Thiền Sư Nhất Hạnh)
Vườn đông phương và vườn tây phương khác nhau rõ rệt: Một bên trồng thật nhiều bông hoa rực rỡ, một bên chú trọng đến nét trầm lặng, cô liêu, trống vắng, sâu thẳm và an bình. Sự khác nhau căn bản đó bắt nguồn từ hai nền văn hóa khác biệt. Ðông phương xem đời sống là một toàn thể, con người sống hòa hợp và thoải mái với thiên nhiên.. Tây phương chú trọng đến việc chinh phục và chế ngự thiên nhiên. Ðông phương qua ảnh hưởng của Phật giáo, nhất là Thiền tông thấy rõ nét thiên thu trong những giây phút ngắn ngủi nối tiếp bất tận, thấy rõ chính nơi thế giới thường ngày chúng ta đang sống vốn là Thực Tại, vốn là sự Chân Thật, vốn là Chốn Thiên Ðàng, là Cảnh Thiên Thu Bất Biến trong sự biến chuyển không ngừng. Vườn đông phương đưa ta vào thế giới trầm lặng, sâu thẳm, bí mật của những gì ở phía bên kia thuộc vùng vô thức, vườn tây phương khích động thị giác chúng ta với những nét rực rỡ muôn màu muôn sắc của chốn bên này, của vùng ý thức. Vườn đông phương vương vấn nơi tâm thức chúng ta, theo chúng ta về đến tận nhà sau khi chúng ta rời khỏi chốn ấy từ lâu. Ngược lại, vườn tây phương biến mất khi chúng ta bước ra khỏi cổng, khi mắt ta không còn đối diện với hoa lá muôn màu muôn vẽ.
I. Hoa Chưa Nở, Bụi Chưa Dấy
Trong bài tựa của thiền thư Bích Nham Lục, thiền sư Viên Ngộ đã viết: “Một mảy bụi dấy lên là đại địa trọn thâu. Một đóa hoa nở là thế giới lừng dậy. Thế nhưng khi bụi chưa lên, hoa chưa nở thì mắt dính vào đâu?”
Khi hoa chưa nở thì chúng ta thấy cái gì? Ðó chính là điểm ách yếu của Thiền Tông và cũng của các vườn đông phương. Những khu vườn xanh thẳm hun hút và trầm lặng: Khi hoa chưa nở thì mắt dính vào đâu?
Tâm là cái mà chúng ta nghe, thấy, biết, phân biệt hay dỡ, đúng sai, là cái mà chúng ta cảm nhận sự vui, buồn, thương ghét khi đối diện với cái chúng ta ưa hay ghét. Vào một vườn tây phương chúng ta thích thú với những đóa hồng trắng, tím, vàng, hoàng phấn to và tươi mát, với những đoá uất kim hương xuất hiện cùng với mùa xuân tô đậm nền cỏ xanh với những khối mầu vàng hay đỏ rực rỡ. Chúng ta thấy bông hoa tràn đầy màu sắc, chúng ta nhìn bầu trời cao rộng, chúng ta nghe tiếng chim hót líu lo. Qua cái thấy, nghe, biết mà chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh và những nét đẹp của hoa lá trong khu vườn giúp chúng ta quên đi giây phút hiện tại trên quả đất này, giúp chúng ta vui sướng qua những rung cảm của giác quan, giúp chúng ta biết được phần nào chốn thiên đàng mà chúng ta mong mỏi, hy vọng hay ước ao sẽ đến khi rời bỏ quả đất đầy phiền não và đấu tranh nàỵ
Vườn đông phương thì ngược lại, không trồng nhiều hoa, không có những cảnh rực rỡ thu hút chúng ta để chúng ta quên mình đi, đánh mất mình đi trong nét đẹp của dáng dấp và màu sắc bao quanh. Vườn đông phương có một chiều sâu thăm thẳm, đó là một thế giới rộng lớn bao la trong một khu vực bé nhỏ. Vào một khu vườn tây phương, chúng ta quên mất sự có mặt của mình. Ở trong một khu vườn đông phương, chúng ta thấy rõ, biết rõ sự hiện hữu của mình trong vũ trụ trống vắng, tinh sạch, bình an và bao la. Sự thấy biết đó, ý thức về sự có mặt của mình đó không phải do mình đối diện với cảnh bên ngoài, đối diện với những hình dáng, mầu sắc, âm thanh mà do sự hòa tan của mình vào ngoại giới và trở thành một với cái vô cùng như thiền sư Tuệ Trung diễn tả:
“Di Ðà vốn thật pháp thân ta
Nam Bắc Ðông Tây khắp chói lòa
Trăng thu ngự giữa trời cao rộng
Ðêm lặng trùng dương rạng chiếu xa.”
(Nhất Hạnh dịch)

Thiền cho ta thấy rõ, sống một cách chân thật với vũ trụ bao la của tâm linh, nhìn thấy tính cách rỗng lặng, tràn đầy, tỏa chiếu của mọi sự vật, nhìn thấy cái vô biên trong một hạt cát và sống trong thời gian vĩnh cữu của những giây phút lăn trôi không ngưng nghỉ. Ðiều ấy được diễn tả trong kinh Hoa Nghiêm:
“Phật tử trụ ở đây
Trong một hạt bụi nhỏ
Thấy vô lượng quốc độ đạo tràng
Chúng sinh và các kiếp.
Trong một hạt bụi như thế
Trong hết thảy hạt bụi cũng thế
Tất cả đều chứa đủ
Thảy đều không ngại nhau.
Trong mỗi hạt bụi
Thấy đủ đại dương quốc độ
Chúng sinh, kiếp như vi trần
Lẫn lộn mà không ngại nhau.
Phật tử trụ ở nơi đây
Quán hết thảy các pháp
Chúng sinh, quốc độ và thời gian
Không sinh khởi và không thực hữu.
Quán sát lý bình đẳng
Nơi chúng sanh nơi pháp
Như Lai, quốc độ và nguyện
Và thời gian thảy đều bình đẳng.”
(Tuệ Sỹ dịch)
II. Cái Có Là Cái Không
Lời Kinh Bát Nhã nói về sự thấy biết rõ ràng chân thật khi chúng ta buông xả mọi thứ ràng buộc, mọi sự bám vúi vào những ý tưởng so đo, những cảm xúc vốn cứ cột chặt lòng mình. Khi lòng mình thoãi mái, tâm mình an bình, trí mình tươi mát, linh động, bén nhạy thì vạn vật hiện ra một cách chân thật: Chúng hiện hữu, có mặt tràn đầy với những hình dáng và màu sắc nhưng rỗng lặng, yên tĩnh và riêng biệt tuyệt đối. Khi đi vào một khu vườn tây phương chúng ta chỉ thấy cái đó, cái hữu bao quanh mình bốn phía. Khi đi vào khu vườn đông phương cái không hiển bày làm ta tiếp xúc được với không gian không bờ mé và thời gian vĩnh cữu:
“Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Kìa xem bóng nguyệt dòng sông
Ai hay không có, có không là gì.
(Nhất Hạnh dịch)
Dĩ nhiên, khu vườn đông phương không phải chỉ là cái trống rỗng không có gì cả. Trong đó cũng có cây cỏ, hoa lá, những tảng đá, những ao hồ hay những con suối, những mô đất cao cùng những bãi cát trắng hay vàng có những đường chạy song song như những đợt sóng biển nối tiếp chạy đến những hoang đảo cô liêu.

Kim Các Tự cô tịch vào mùa đông
Theo quyển Vườn Nhật Bản, người ta phân ra làm bốn loại vườn chúng ta thường thấy ở các chùa chiền, nơi thiền viện hay những tư gia: Vườn có ao đồi, vườn đá cát và vườn có các bậc đá xếp thành lối đi và vườn ngoạn cảnh.
Vườn ao đồi là những khu vườn rộng người ta đắp những đồi đất tượng trưng cho núi và đào những chiếc ao hay hồ tượng trưng cho biển. Những cây cối trồng nơi đây được tỉa cắt cẩn thận để chúng đừng lớn quá và luôn luôn hòa hợp với khung cảnh xung quanh, tạo thành một cảnh đồi núi hùng vĩ với những cây tùng, cây bách ghi dấu thời gian đang lặng lẽ trôi qua. Khu vườn là một vũ trụ mênh mông trong một khu đất giới hạn về không gian lẫn thời gian.
Vưòn đá cát là những vườn khô, không cây cỏ, chỉ có cát và đá. Vườn mà không có cây cối, hoa lá, chỉ những tảng đá rêu phong cùng bãi cát trắng cùng bức tường tạo thành một vũ trụ riêng biệt. Ở nhiều thiền viện, những vườn đá cát được tạo nên để giúp chúng ta nhìn thấy cái trống vắng của thế giới bên trong cũng như bên ngoài, cái bao la trên một vùng nhỏ bé. Trên khu đất hình chữ nhật, người ta trãi cát. Các hòn đá được sắp xếp theo quy luật tương xứng và liên hệ hỗ tương để biểu lộ sự hòa hợp tự nhiên. Các hòn đá này rải rác nhiều nơi trên thảm cát. Những tảng đá lớn là chính, những hòn nhỏ hơn được thêm vào theo các con số 1, 3, 5, 7, 9, 11, 13, 15. Các hòn đá được sắp xếp gần nhau theo số lẻ để tạo nét hòa hợp tự nhiên. Có lúc hai tảng đá nằm kế cận thì một lớn (Chủ) và một nhỏ (Bạn) đối xứng và hỗ trợ cho nhau.
Những vườn đá thường do các vị tu sĩ Phật giáo thực hiện vào các thế kỹ trước đây và những vườn này bày tỏ chất thiền một cách cụ thể nhất qua hình thù và màu sắc. Những tảng đá tuy được sắp xếp theo một quy luật nào đó, với những hình thù và khối lượng khác nhau để tạo ra sự hòa hợp và cân đối nhưng đó không phải là mục đích chính của tác giả. Các ngôi chùa và các thiền viện đều tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh nói về sự rốt ráo của tâm giải thoát:
“…sắc tức là không
Không tức là sắc …”
Các hình thù, màu sắc, khối lượng là không. Không ở đây không phải là cái trống vắng của một cái gì đã có trước rồi nay lại biến đi. Không cũng không là ngược lại với có hay là sự trống rỗng. Không ở đây là tính chân thật của vạn pháp, của mọi sự vật: Là cái rỗng lặng trong cái tràn đầy, là cái tĩnh lặng của cái sống động, là cái bất động trong sự chuyển động náo nhiệt, là cái thiên thu bất biến trong cái chuyển biến liên tục, là cái thường hằng vĩnh cữu trong cái vô thường của dòng thời gian lăn trôi.
Nếu chúng ta đứng yên nhìn vườn đá, chúng ta sẽ thấy đá cát tự chúng biểu lộ tánh chân thật tự nhiên của mình, không liên quan gì đến những điều ta gán thêm cho chúng về ý nghĩa của cách sắp xếp, về giá trị thẩm mỹ, về những lời trầm trồ khen ngợi hay chê bai:
“Thể các pháp đều không
Không sanh cũng không diệt
Không nhơ cũng không sạch
Không thêm cũng không bớt
Cho nên trong tánh không
Không có sắc…”
Bát Nhã Tâm Kinh
Tánh không hay tánh chân thật, còn được gọi là Phật tánh, đều có ở mọi thứ. Khi tâm trong sáng và tỉnh thức thì ta thấy rõ điều kỳ diệu ấỵ Cái biết về tánh không đó không nằm nơi chữ nghĩa mà phát xuất từ trực giác. Không do lời giảng giải hay so sánh mà do sự hay biết trực tiếp khi nhìn thấy sự vật trước mắt. Và đó là sức hấp dẩn của loại vườn đá cát.
Tuy thế, xin đừng bận tâm về cái sắc sắc không không (Có có không không) nói trên vì chúng ta đến đây để mà ngắm nhìn một khu vườn tức là một sự vật hiện rõ ràng trước mắt. Chúng ta hãy thưởng ngoạn những nét đặc thù của các viên đá lớn nhỏ rải rác trên thảm cát trắng. Thật ra, đó không phải là cát mà là những hạt sỏi nhỏ màu vàng nhạt dưới ánh mặt trời chuyển thành màu trắng mà ở xa ta thấy như là thảm cát. “Thảm cát” là biển lớn trên đó thiền sinh thường dùng cào tre để kéo những đường cong hay thẳng tượng trưng cho sóng biển chạy mãi đến vô biên. Có nhiều loại sóng biển khác nhau tùy theo biển bình lặng hay bảo tố, các nét vạch lên cát có đường nét khác nhau để diển tả thời tiết khác nhau trên vùng biển lớn. Chúng ta không đi vào những vườn đá cát mà chỉ đứng hay ngồi ở bên ngoài mà ngắm nhìn ở những góc độ khác nhau. Và như nhìn vào vũ trụ, mỗi lần nhìn vườn đá cát là mỗi lần chúng ta thấy điều mới mẻ xuất hiện. Tại sao thế? À! Ðó là sự kỳ diệu của chân tâm, Phật tánh nơi mỗi chúng ta và cũng là tài hoa của nhà nghệ sĩ tạo dựng khung cảnh nàỵ Chúng ta hãy nghe vị Tam Tổ Tăng Xán của Thiền tông giải thích về điều ấy:
“Tâm là tâm của cảnh
Cảnh là cảnh của tâm
Ví biết hai chẳng dứt
Rồi cũng chỉ một không
Một không, hai mà một
Bao gồm hết muôn sai
Chẳng thấy trong thấy đục
Lấy gì mà lệch sai”
(Trúc Thiên dịch)

Loại vưòn thứ ba là khu vườn với những bậc đá đưa đến trà thất. Trà thất là căn lều nhỏ bé chỉ đủ chổ cho hai hoặc ba người ngồi uống trà trong tỉnh thức mà chúng ta thường gọi là trà đạo. Ðến trà thất như vượt qua những ngọn đồi để đến vùng yên tĩnh. Con đường lên đồi thường có những bậc cấp quanh co. Những phiến đá bằng, không đều cạnh thường được sắp xếp để tạo nên ấn tượng của cuộc hành trình đặc biệt ấy. Khi chúng ta bước qua cổng, chân đặt trên những phiến đá trên vùng rêu xanh mà cây cỏ đều tỏa nét u tịch, an bình và hòa hợp tự nhiên lòng mình bỗng dịu lại trong niềm an bình trống vắng như một chiếc lá vàng đang êm đềm yên nghỉ trên phiến rêu xanh.
Loại vườn thứ tư là vườn mà chúng ta đi vào để ngoạn cảnh. Các loại vườn trước đây người ta chú tâm đến nét tĩnh, loại vườn này lại chú trọng tính cách động: chúng ta dạo quanh vườn, khi ở cạnh hồ, lúc ở dốc núi, khi dưới tàng cây, lúc trên chiếc cầu. Mỗi nơi ta nhìn đều bày tỏ, biểu lộ cái Riêng Biệt trong cái Toàn Thể cũng như biểu lộ cái Toàn Thể trong cái Riêng Biệt. Ðiều kỳ diệu nhất là chúng ta không tách lìa, không ở ngoài những thứ ấy: Chúng ta vừa là cái Riêng Biệt chuyển động trong cái Toàn Thể bao la bất động.
Ðạo là cái rộng lớn bao la, yên tĩnh tuyệt vời, an vui kỳ diệu. Sống đạo là trở thành, là biết rõ, là an trú trong niềm hạnh phúc bao la sâu thẳm của kiếp nhân sinh tuy ngắn ngủi trong thời gian và nhỏ bé trong không gian nhưng vốn rộng lớn vô biên và mãi mãi không cùng. Ðó chính là niềm bí mật luôn luôn mời gọi, luôn luôn thì thầm, luôn luôn thúc bách chúng ta hãy khám phá những gì mình đang có mà chưa biết đến.
Chúng ta chỉ có một cuộc đời để sống, chúng ta đang có niềm an vui rộng lớn vô cùng để an hưởng. Xin hãy tặng cho mình điều quý báu ấy. Xin hãy khoan thai bước đến vườn thiền, hãy để lòng an bình và trí buông xả, bước những bước đi trong tỉnh thức để cảm nhận được gió mát đang chổi dậy, để nhận ra những đóa hoa sen đang nở ra trong chốn bình thản và rộng lớn vô biên:
“Ý về muôn vạn nẻo
Thiền lộ tâm an nhiên
Từng bước gió mát dạy
Từng bước hoa sen nở.”
(Thiền Sư Nhất Hạnh)
Dương Trọng Thu @ 04:48 21/10/2010
Số lượt xem: 855
Số lượt thích:
0 người
 
- Thiền Và Trà Ðạo (21/10/10)
- Thiền Và Hoa Ðạo (21/10/10)
- Ðức Phật Và Giáo Lý Giải Thoát (21/10/10)
- TỤC THỜ ĐÁ TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM (20/10/10)
- CÂU CHUYỆN NHÀ SƯ (17/10/10)
GIAO LƯU-TRAO ĐỔI